Bình đẳng giới ở nơi làm việc - Điều kiện cần để phát triển bền vững

Ngày 03/08/2018

Bình đẳng giới là một khái niệm tương đối mới. Cho đến cuối thế kỷ XIX, phụ nữ trên khắp thế giới vẫn bị đối xử như là giới tính thấp kém và bị loại khỏi các hoạt động cộng đồng, đặc biệt là trong các lĩnh vực liên quan đến chính trị, giáo dục, và một số ngành nghề nhất định. Trong 20 năm qua, phụ nữ và trẻ em gái trên thế giới đã đạt được những tiến bộ đáng kể về y tế, giáo dục, và pháp quyền; nhưng vẫn còn nhiều khoảng cách về giới trong các lĩnh vực kinh tế, lãnh đạo, chính trị, và an ninh. Vậy bình đẳng giới là gì? Vì sao cần có bình đẳng giới ở nơi làm việc? Và làm thế nào để có được môi trường làm việc bình đẳng về giới tính? 

 

Khi nói đến bình đẳng giới ở nơi làm việc, có nhiều người cho rằng đó là một phong trào nữ quyền nhằm nâng cao phụ nữ và hạ thấp đàn ông, hoặc là phong trào đưa phụ nữ vào thay thế đàn ông ở các vị trí kinh tế và xã hội quan trọng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội và sự biến đổi trong mối quan hệ giữa nam và nữ, phong trào bình đẳng giới là một hiện tượng lịch sử mang tính trí tuệ, chính trị, xã hội và kinh tế tất yếu phải xảy ra.   

 

Bình đẳng giới ở nơi làm việc không có nghĩa là tỉ lệ nam nữ trong công ty phải cân bằng, mà có nghĩa là mọi người đều được tiếp cận các cơ hội và nguồn lực giống nhau, cũng như được nhận thù lao như nhau cho những công việc tương đương, không phân biệt giới tính. Bình đẳng giới là bãi bỏ những rào cản để phụ nữ được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong lực lượng lao động; là không phân biệt giới tính trong bất cứ ngành nghề nào, bao gồm các vị trí lãnh đạo; là loại bỏ phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính, nhất là trong các vấn đề liên quan đến gia đình và trách nhiệm chăm sóc gia đình.  Ở Việt Nam, cùng với nhiều nước trên thế giới, phụ nữ đã đạt được nhiều thành tựu trong bình đẳng giới, đặc biệt là trong giáo dục, y tế, hay như về tỷ lệ nữ giới tham gia vào lực lượng lao động. Theo số liệu của Tổng cục Thống Kê năm 2017, phụ nữ trong vai trò lãnh đạo ở Việt Nam chiếm 28% - khá cao so với tỷ lệ trung bình trên thế giới là 19%, thậm chí so với các nước OECD. Số phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động ở Việt Nam cũng khá cao – đạt tới 72% tổng số phụ nữ cả nước, và chiếm 48,1% tổng số lực lượng lao động ở Việt Nam.  

 

Tuy nhiên, khoảng cách của tổng thu nhập bình quân giữa phụ nữ và đàn ông trong độ tuổi lao động ở Việt Nam là 11,24%, tức là đàn ông nhận được 1000 đồng thì phụ nữ chỉ nhận được 887,6 đồng. Cho tới nay, 83% các quảng cáo tuyển dụng vẫn ưu tiên đàn ông hơn phụ nữ.  Mặc dù phụ nữ đã tham gia và đạt huy chương trong các môn thể thao mà từ trước tới nay được coi là của nam giới, như bóng đá, quyền anh, đẩy tạ, v.v…, phụ nữ vẫn bị coi là phái yếu và kém khả năng hơn đàn ông khi có tuổi, đồng thời vẫn phải đảm nhiệm vai trò chăm sóc gia đình và nội trợ. Do vậy, phụ nữ Việt Nam phải nghỉ hưu trước đàn ông 05 năm, và bị cấm làm việc trong một số ngành nghề được coi là nguy hiểm, nặng nhọc, dễ ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản. Trong khi đó, đàn ông không được hưởng chế độ nghỉ để chăm sóc con cái và gia đình như phụ nữ.

 

Thế giới đang thay đổi và các doanh nghiệp cũng thay đổi theo. Trong một nghiên cứu của McKinsey, các công ty đa dạng về giới có khả năng hoạt động tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh của họ 15%. Trong một báo cáo chung của Intel và Dalberg, những công ty công nghệ với ít nhất một nhà lãnh đạo nữ có giá trị doanh nghiệp cao hơn 13% -16% so với các công ty có bộ máy lãnh đạo toàn nam giới. Hoặc một khảo sát của First Round Capital ghi nhận rằng đầu tư của họ vào các công ty với những người sáng lập là phụ nữ đã đạt được 63% tốt hơn so với đầu tư vào các công ty có đội ngũ sáng lập là nam giới. Các nghiên cứu, khảo sát của Goldman Sachs, Morgan Stanley, và World Economic Forum đều có những kết luận tương tự.

 

Những con số trên đã chứng minh rằng việc cải thiện bình đẳng giới ở nơi làm việc đã đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, năng suất, và sự hài lòng trong công việc của người lao động (theo nghiên cứu của WGEA, Australia).  Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tăng cường hội nhập ở Việt Nam, nhất là khi các hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước trong khối CCTPP và EU đang được triển khai, nếu những nhà lãnh đạo doanh nghiệp vẫn còn đang nghĩ rằng có phụ nữ trong vị trí lãnh đạo công ty không mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp thì họ sẽ gặp khó khăn trong việc thuyết phục các nhà đầu tư, các cổ đông, và thậm chí các nhân viên về khả năng tăng giá trị của công ty mình. 

 

Nhiều công ty trên thế giới đã thành công trong việc đưa phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo thông qua các chiến lược như: (1) chủ động tài trợ cho phụ nữ có tiềm năng phát triển, (2) hỗ trợ nhân tài thông qua cải thiện đời sống, (3) đầu tư vào cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện phát triển cho một môi trường làm việc linh hoạt và toàn diện hơn, (4) thay đổi các quan niệm cố hữu về tiêu chuẩn trong tuyển dụng và đánh giá, (5) đầu tư phát triển khả năng lãnh đạo cấp cao để thúc đẩy thay đổi văn hoá, (6) tập trung phát triển những phụ nữ có tiềm năng trong sự nghiệp, và cho họ cơ hội làm việc ở những vị trí chủ chốt (theo WGEA, Australia). Đã đến lúc các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào phát triển bình đẳng giới ở nơi làm việc thông qua các hình thức như (1) thay đổi cơ cấu giới tính trong lực lượng lao động, (2) tạo thu nhập bình đẳng giữa nam và nữ; (3) tạo điều kiện làm việc linh hoạt và hỗ trợ chăm sóc gia đình cho cả nam và nữ; (4) tư vấn cho cán bộ nhân viên về bình đẳng giới; (5) tạo điều kiện thăng tiến bình đẳng cho cả nam và nữ, và (6) xóa bỏ phân biệt đối xử liên quan đến giới tính. Đồng thời, các nhà lập pháp cũng cần cân nhắc phá bỏ các rào cản để phụ nữ có thể lựa chọn các công việc mà họ muốn làm, bởi vì những công việc nguy hiểm hoặc dễ ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ thì cũng có những ảnh hưởng tương tự tới đàn ông; hơn nữa, đàn ông cũng nên được hưởng các chế độ nghỉ chăm sóc con cái và gia đình như phụ nữ để chia sẻ trách nhiệm gia đình.  

 

Chúng ta đang sống trong thời kỳ thông tin số, phụ nữ có thể trực tiếp lựa chọn làm việc cho những công ty đối xử tốt với họ, sử dụng mạng xã hội để gây ảnh hưởng tới các phụ nữ khác mua hàng từ các công ty có những giá trị tương đồng với họ, và đầu tư vào những công ty có hàng ngũ lãnh đạo chủ chốt là phụ nữ. Sức ảnh hưởng của phụ nữ đến các doanh nghiệp đang ở mức độ chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại, và đang trở thành một trong những lực lượng mạnh mẽ nhất có thể phá vỡ hay tạo nên thành công của một doanh nghiệp. Phát triển quyền năng kinh tế của phụ nữ và bình đẳng giới ở nơi làm việc sẽ giúp duy trì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp nhanh hơn chúng ta nghĩ.

 

Hiên Nguyễn

 

VBCWE